Cấu hình NFS chia sẻ file trên Linux (Phần 1)

1. NFS là gì?

NFS viết tắt của Network File System là một giao thức hệ thống tệp tin cho phép bạn gắn kết (mount) tới các thư mục trên máy chủ qua mạng. Điều này giúp cho bạn có thể truy xuất đến tài nguyên trên máy chủ từ xa từ nhiều vị trí khác nhau.

NFS cung cấp một cách tương đối nhanh chóng và dễ dàng để truy cập vào hệ thống từ xa qua mạng và hoạt động tốt trong các tình huống nơi mà các tài nguyên chia sẻ sẽ được truy cập thường xuyên.

Như hình trên, bạn sẽ thấy dễ hiểu hơn về NFS. Chúng ta cần cấu hình để tạo NFS Server là nơi cho phép chia sẻ dữ liệu, các NFS Client sẽ được mount đến dữ liệu chia sẻ trên NFS Server. Lúc này dữ liệu được chia sẻ sẽ được đồng bộ giữa các máy với nhau.

2. Sử dụng Samba thay thế NFS?

Một dịch vụ khá phổ biến khác trong Linux là Samba cũng được dùng để chia sẻ dữ liệu qua mạng. Tuy nhiên, chúng có những ưu nhược điểm khác nhau, Samba được thiết kế để cho phép các máy Windows giao tiếp với các máy chạy các kiểu OS khác, bởi vậy Samba được biết đến như một thông dịch (translator) trung gian.

Do vậy, nếu bạn cần chia sẻ dữ liệu giữa các máy Linux với nhau, bạn nên sử dụng giao thức vốn có là NFS sẽ đem lại nhiều quả tốt hơn là Samba.

3. Khi nào sử dụng NFS và Samba?

Dưới dây là một vài ngữ cảnh giúp bạn hình dung tốt hơn về việc sử dụng NFS và Samba.

Server O/S Client O/S Use Samba or NFS?
Linux Linux NFS
Windows Linux Samba
Linux Windows Samba
Windows Windows Samba

Tóm lại, trong một mạng không đồng nhất (có chứa nhiều hơn một OS), bạn nên sử dụng NFS để giao tiếp giữa các máy Linux và chỉ nên sử dụng Samba để giao tiếp giữa một OS này với một OS dạng khác.

Nguồn: tổng hợp từ internet.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *